093 515 7244 – Anh Vũ
kinhdoanh@vinamach.com

Phóng Sự MÁY THU TRÁI BẮP – BTV1

Tù mù giá thức ăn chăn nuôi

Trong những yếu tố đang khiến cho ngành chăn nuôi nước ta kém sức cạnh tranh, thức ăn chăn nuôi(TĂCN), mà cụ thể là do giá thành TĂCN đóng góp một phần không nhỏ.

công khai, quản lý, thức ăn, chăn nuôi, giá thành, thị trường, lợi nhuận, nông dân

Cần minh bạch và công khai giá thành thức ăn chăn nuôi

Giá TĂCN vẫn cao, lại không ai nắm rõ giá thành, giá bán…, khiến cho nhà sản xuất thức ăn lời to, còn người chăn nuôi thì “méo mặt”.

Tại hội thảo “Tăng cường tính cạnh tranh trong thị trường lúa gạo và chăn nuôi Việt Nam”, do Trung tâm Chính sách và Chiến lược NN-NT miền Nam, Oxfam, Diễn đàn Chính sách Nông nghiệp Việt Nam tổ chức tại TP.HCM mới đây, ông Lê Bá Lịch, Chủ tịch Hiệp Hội TĂCN cho biết: Hiện nay cả nước ta có 199 nhà máy sản xuất TĂCN, sản lượng năm 2014 là 14,462 triệu tấn (chưa tính thức ăn thủy sản). So với năm 2010, sản lượng TĂCN đã cao hơn tới 4 triệu tấn. Điều nay cho thấy ngành sản xuất TĂCN vẫn đang phát triển mạnh. Nhiều DN, nhất là những DN FDI vẫn đang tiếp tục đầu tư lớn để xây dựng thêm các nhà máy TĂCN mới.

Tuy nhiên, ngành thức ăn chăn nuôi lại đang tạo ra những mối lo không nhỏ cho cả ngành chăn nuôi, nhất là ở khía cạnh giá thành sản xuất. Ông Nguyễn Thanh Sơn, Viện trưởng Viện Chăn nuôi cho rằng, hiện đang có 3 ẩn số lớn của ngành thức ăn chăn nuôi.

Trước hết, cơ quan quản lý Nhà nước không thể nắm được chính xác sản lượng thức ăn công nghiệp, bởi các DN sản xuất lớn không hề báo cáo sản lượng của họ về Cục Chăn nuôi.

Do đó, sản lượng TĂCN hàng năm mà Cục Chăn nuôi công bố, chỉ là ước tính. Thứ hai, giá thành và giá bán thực sự của các sản phẩm thức ăn chăn nuôi hiện không cơ quan nào biết được. Mà các DN sản xuất TĂCN lại đang thu lãi lớn. Ngành TĂCN đang có hiện tượng neo giá và làm giá, ảnh hưởng tới nông dân. Thứ ba là tiêu chuẩn chất lượng TĂCN hiện nay gần như chưa kiểm soát được. Nhiều nhà máy vẫn gian lận về chất lượng sản phẩm. Trong khi đó, cơ quan quản lý Nhà nước vẫn lúng túng trong công tác quản lý TĂCN.

Chính vì trong ngành thức ăn chăn nuôi vẫn còn tồn tại những điều chưa rõ ràng như trên, nên theo nhận định của nhiều chuyên gia, không ít DN trong ngành nay đang thu lời lớn.

Theo TS Nguyễn Văn Giáp, GĐ Trung tâm Chính sách và Chiến lược NN-NT miền Nam, hiện nay, các DN TĂCN trong nước công bố tỷ lệ lợi nhuận trên giá thành sản xuất 1 kg TĂCN vào khoảng 1-3%. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia chăn nuôi cho rằng tỷ lệ này phải lên tới 10-15%. Còn theo ông Đoàn Xuân Trúc, PCT Hội Chăn nuôi Việt Nam, có những DN đạt tỷ lệ lợi nhuận tới 30%.

Điểm đáng chú ý nhất với ngành sản xuất TĂCN trong năm nay là Nhà nước đã bãi bỏ thuế VAT (5%) với các nguyên liệu NK như ngô, đậu tương …

Vì thế, giá TĂCN có giảm nhưng lại không được như kỳ vọng. Theo TS Nguyễn Văn Giáp, thông tin từ một số DN sản xuất TĂCN cho hay, họ chỉ có thể giảm giá TĂCN từ 2,5-3,5% do một số nguyên liệu như bột cá, vitamin các loại không được miễn giảm VAT. Đồng thời DN vẫn phải chịu các khoản VAT từ chi phí vận chuyển tăng, giá điên, giá nước, chi phí máy móc … nên giá TĂCN không thể giảm đến 5% được.

Mặt khác, giá TĂCN ở Việt Nam vẫn cao do còn quá phụ thuộc vào NK. Thông tin từ Cty Cargill cho hay, nếu giá ngô ở Mỹ là 2.600 đ/kg thì khi nhập về Việt Nam sẽ lên thành 5.200 đ/kg, đậu nành ở Mỹ 4.500 đ/kg, nhập về Việt Nam là 9.000 đ/kg …

Bên cạnh đó, khi NK nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, DN phải gánh thêm chi phí về vận chuyển, kiểm định, thuế, rủi ro khi nguyên liệu không đạt chuẩn. Hàng nhập về tới cảng phải chịu thêm nhiều chi phí khi qua các khâu kiểm soát của hải quan, thú y, bảo vệ thực vật …

Ngoài ra, do thị trường Việt Nam manh tính rủi ro cao nên các DN buộc phải rút ngắn thời gian khấu hao máy móc còn 5 năm, nhằm thu hồi vốn nhanh, nhưng như vậy lại làm cho giá thành thức ăn chăn nuôi bị đội lên. Chi phí khuyến mãi, chiết khấu của các DN TĂCN cũng đang ở mức cao (chiếm 6-10% giá thành). Riêng về chi phí khuyến mãi, chiết khấu, ông Đoàn Xuân Trúc cho biết, có những DN chi tới 10-15%, nên đẩy giá bán lên cao.

Ông Lê Bá Lịch cho rằng, lãi suất ngân hàng vẫn còn cao (các nhà máy TĂCN đang phải vay vốn với lãi suất 11%), cũng là nguyên nhân quan trọng khiến cho giá TĂCN neo ở mức cao …

Chính vì vậy, để tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm chăn nuôi Việt Nam, ngoài các giải pháp về giống, tổ chức chăn nuôi …, quản lý giá và chất lượng TĂCN được coi là một yếu tố quan trọng nhằm giúp người chăn nuôi giảm giá thành sản xuất.

Theo TS Nguyễn Văn Giáp, kết quả khảo sát của Trung tâm Chính sách và Chiến lược Nông nghiệp – Nông Thôn miền Nam cho thấy, có 89% người được hỏi (nhà quản lý, DN, nhà nghiên cứu) cho rằng, cần phải có quy định yêu cầu các DN sản xuất thức ăn chăn nuôi công khai giá thành, giá bán. Nhà nước cũng cần có quy định giới hạn mức lợi nhuận trên thức ăn chăn nuôi. Hiện nay, ở Thái Lan, đã có quy định lợi nhuận của mặt hàng thức ăn chăn nuôi là 5%. Còn ở Việt Nam chưa ai quản lý việc này.

Nâng cao chất lượng lúa gạo

Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp đã mang lại làn gió mới, làm thay đổi diện mạo nông thôn, đặc biệt ở ĐBSCL, hầu hết các tỉnh đều xây dựng mô hình cánh đồng lớn (CĐL) để đột phá.

nông dân, sản xuất, thu hoạch, lúa, cánh đồng lớn, Đồng Tháp

Người nông dân thu hoạch lúa trên cánh đồng lớn ở Đồng Tháp

Để làm được vấn đề đó, khâu chọn lựa giống là yếu tố quan trọng. Đồng Tháp là tỉnh đứng thứ 3 trong vùng về sản lượng lúa hàng hóa sau Kiên Giang và An Giang. Tỉnh đã có kế hoạch mở rộng diện tích thực hiện CĐL lên tới 120.000 ha.

Đến nay đã có 10/12 huyện thị tổ chức mô hình CĐL trừ TP. Cao Lãnh và TP. Sa Đéc với diện tích vụ Đông-Xuân và Hè -Thu năm 2015 đạt gần 60.000 ha.

Hiện tại, khi vận động nông dân tham gia mô hình CĐL, ngành nông nghiệp phải giải quyết 3 vấn đề lớn là năng suất, chất lượng lúa hàng hóa và tổ chức tiêu thụ sản phẩm.

Hướng đi đúng của mô hình là qua quá trình sản xuất, các CĐL đã chọn lọc được một số chủng loại giống lúa chất lượng cao có thể xây dựng thương hiệu gạo chất lượng cao trong tương lai gần.

Bởi CĐL không thể SX hàng chục loại giống lúa khác nhau theo sở thích của từng hộ nông dân mà phải SX theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu thị trường tiêu thụ gạo trên thế giới.

Cty CP Giống cây trồng Đồng Tháp (Doseco) là một trong những DN hàng đầu về SX giống lúa chất lượng cao và cung cấp giống cho nhiều CĐL trong và ngoài tỉnh.

Ông Nguyễn Văn Hồng, Giám đốc Cty cho biết, để đảm bảo lượng giống chất lượng đầu vào cho CĐL SX 3 vụ trong năm, Cty hợp đồng cung cấp chủ yếu các loại lúa giống xác nhận như Jasmine 85, OM 4900, OM 6976… cho các HTX SX CĐL ở hai huyện Thanh Bình và Tam Nông trên 4.000 ha. HTX đứng ra làm đầu mối cung cấp giống xuống xã viên hoặc nông dân.

Để tạo điều kiện cho mối liên kết 4 nhà, Doseco giữ vai trò DN hỗ trợ lúa giống cho bà con, khi đến cuối vụ mới thanh toán, nhưng không tính lãi. Bình quân mỗi năm Doseco cung ứng 1.500 tấn giống chất lượng cao cho nông dân SX CĐL trong tỉnh.

Hiện tại Doseco có vùng nguyên liệu hàng trăm ha chuyên SX giống ở các tỉnh ĐBSCL. Lượng giống mỗi năm cung ứng ra thị trường trên 3.000 tấn giống với hơn 20 chủng loại.

Để đảm bảo giống đạt chất lượng, Doseco có đội ngũ nhân viên kỹ thuật có tay nghề cao theo dõi từng giai đoạn sinh trưởng của cây lúa về quy trình SX giống lúc còn trên đồng từ khâu làm đất đến khử lẫn.

Mới đây 10 nông dân ở xã Mỹ Hòa, huyện Tháp Mười có 155 ha đất trồng lúa (trong đó người ít nhất 10 ha) đã mạnh dạn đứng ra thành lập tổ hợp tác.

Đây là mô hình nông dân liên kết làm ăn nhằm nâng cao giá trị gia tăng trong sản xuất lúa. Để đảm bảo đầu vào ở khâu giống chất lượng, Doseco cũng đứng ra ký hợp đồng cung ứng giống cho tổ hợp tác ở xã Mỹ Hòa.

Ông Nguyễn Văn Công, GĐ Sở NN-PTNT Đồng Tháp cho biết, toàn tỉnh có nhu cầu sử dụng 60.000 tấn giống lúa ở 3 vụ trong năm. Giống được phân phối qua CLB, cơ sở sản xuất kinh doanh giống và DN.

Hiện tại, đã có trên 60% diện tích đất SX lúa 3 vụ sử dụng giống xác nhận. Các CĐL đang tập trung SX giống Jasmine 85, VD20, OM 4900, OM 6976, OM 5451, IR 50404…. theo nhu cầu của Cty Lương thực Đồng Tháp, Cty Lộc Anh, Cty Cẩm Nguyên, Tập đoàn Lộc Trời… Theo nhận định của các chuyên gia về lúa gạo thì thị trường thế giới vẫn tiêu thụ chủ yếu là gạo thơm, chất lượng cao như các giống Jasmine 85, VD20, OM 4900; gạo cấp thấp hơn, chất lượng trung bình (15 – 25% tấm) như giống IR 50404, OM 6976…

Tiềm năng SX và cung ứng giống lúa ở ĐBSCL thời gian tới rất phong phú và đa dạng, thị trường lúa gạo trong và ngoài nước sẽ chọn lọc dần những chủng loại giống chất lượng cao thông qua các cánh đồng liên kết để hình thành thương hiệu gạo Việt Nam cạnh tranh có hiệu quả với Thái Lan, Myanmar, Ấn Độ…

Rau an toàn bị mất niềm tin – Người dân không muốn trồng rau sạch

Trong khi nhiều người dân có nhu cầu sử dụng rau an toàn nhưng việc tiêu thụ sản phẩm này lại rất khó khăn và không lãi như trồng các loại rau thông thường. Vì vậy, ở nhiều vùng sản xuất, nông dân không muốn trồng rau an toàn.

rau sạch trong siêu thị

Rau an toàn bán trong siêu thị có giá không cao hơn rau ‘chợ đen’ trong khi chi phí cao hơn nên người dân không muốn trồng – Ảnh Phan Hậu

Khó tiêu thụ

Đầu năm 2003, Sở NN-PTNT Hà Nội thông qua Sàn giao dịch rau quả và thực phẩm Hà Nội, đã hỗ trợ kinh phí tổ chức mạng lưới hệ thống tiêu thụ rau an toàn đến từng khu dân cư, chợ dân sinh trong các quận nội thành. Khi đó, mô hình này được đầu tư khá tốn kém, bởi nó được kỳ vọng mở ra hướng đi mới trong khâu tiêu thụ rau an toàn, nhưng đến nay nhiều địa chỉ đã ngừng hoạt động từ lâu.

Trong số cá nhân từng tham gia hỗ trợ tiêu thụ RAT, bà Đặng Hồng Thêm (nhà số 197 phố Đặng Tiến Đông, P.Trung Liệt, Q.Đống Đa, Hà Nội) cho biết phường từng có 3 điểm phân phối theo chương trình vận động của Hội Phụ nữ Q.Đống Đa kêu gọi người dân trên địa bàn sử dụng rau an toàn, nhưng bây giờ “đã nghỉ hết rồi” vì rau an toàn không phong phú về chủng loại, trong khi người tiêu dùng có nhu cầu đa dạng. Có những ngày, rau đưa đến chậm, chất lượng không đảm bảo khiến nhiều gia đình không chủ động được bữa ăn. Cứ thế khối lượng đặt rau hằng ngày cứ thưa dần, nên bà Thêm cũng xin dừng hoạt động.

Có nhiều năm kinh doanh rau ở tại chợ Thành Công, chị Chu Thị C., từng nhập bán rau an toàn cho các vùng sản xuất tại H.Đông Anh nhưng chỉ sau vài tháng, chị C. cũng chủ động ngừng hợp đồng bán hàng. Chị C. cho biết khách hàng thường xuyên phàn nàn rau không đủ chủng loại yêu cầu. Người kinh doanh có lợi nhuận không bằng loại rau chọn từ chợ đầu mối, nên giờ không ai nhập hàng nữa.

Do chi phí lớn

Cũng theo tính toán của nhiều hợp tác xã, nếu đầu tư trồng rau an toàn, sử dụng phân bón vi sinh, thuốc bảo vệ thực vật dạng sinh học, thảo mộc… luôn cao hơn từ 10 – 15% chi phí so với trồng rau bình thường nhưng giá bán ngoài thị trường “cào bằng”, không cao hơn “rau chợ đen” là nguy cơ khiến nông dân chuyển đổi cơ cấu sản xuất hoặc dễ quay lưng, không tuân thủ quy trình trồng rau an toàn.

Theo bà Nguyễn Thị Năm, người tham gia trồng rau an toàn tại P.Giang Biên, Q.Long Biên (Hà Nội), trong số gần100 hộ trồng rau an toàn tại địa phương, hiện chỉ có vài hộ được doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm; 2 hộ gây dựng kệ bán rau ở tại khu K5 Khu đô thị Việt Hưng. Số còn lại tự tìm cách bán rau ở các chợ cóc hoặc cung cấp vào bếp ăn công trường xây dựng.

“Có tiếng là rau an toàn nhưng tiêu thụ bấp bênh, phí nước sạch thì phải nộp hằng tháng nên không ai sử dụng dịch vụ cung cấp nước nữa. Còn hộ nào trồng rau thì chủ động khoan giếng tại ruộng hoặc chuyển đổi sang trồng nhãn, đu đủ… những loại cây ăn quả ít tốn nước tưới”, bà Năm nói.

Tại P.Cự Khối, Q.Long Biên từng là vùng chuyên canh trồng rau an toàn nhưng giờ đa số người dân cũng không còn trồng nữa. Ông Nguyễn Văn T. một người tham gia trồng rau kể: “Khi cả làng cùng làm rau thì thua lỗ hết lượt. Nhà nào có người đi bán trực tiếp tại các chợ còn giữ được vốn, nếu bán tại ruộng cho thương lái, giá mỗi mớ rau chỉ có vài ba trăm đồng thì lỗ nặng. Bán không biết bao nhiêu rau mới gom đủ tiền trả phí 60.000 đồng/sào tiền nước tưới hằng tháng. Thế nên số lượng trồng rau an toàn cứ thế vơi dần”.

Gắn bó với mô hình trồng rau an toàn từ những ngày đầu thành lập và hiện đang có 400 hộ xã viên tham gia sản xuất với tổng diện tích 25 ha, bà Đỗ Thị Liên, Chủ nhiệm hợp tác xã rau an toàn Đạo Đức luôn trăn trở tìm cách phát triển mở rộng thị trường tiêu thụ nhưng thực tế không dễ dàng khi hệ thống bán hàng ngày càng thu hẹp.

Theo bà Liên, đội ngũ phát triển thị trường hiện có 12 xã viên. Ở thời điểm phát triển mạnh nhất, hợp tác xã có hàng chục điểm phân phối, bán lẻ ở các chợ nội thành Hà Nội. Cũng chỉ được vài năm, lãi suất từ bán rau không theo kịp giá thuê địa điểm nên phần lớn phải chuyển nhượng lại. Trong khi đó, rau an toàn vào các siêu thị lớn, chi phí đội lên cao, nên lãi không được bao nhiêu, chủ yếu là giữ làm thương hiệu.

“Nông dân làm rau an toàn mong có lợi nhuận cao hơn, có sản phẩm tốt cho người tiêu dùng. Nhưng cứ tình trạng rau an toàn giá bán như “rau chợ đen” hiện tại thì rất khó phát triển, thậm chí là không thể tạo ra động lực để người sản xuất ứng dụng khoa học kỹ thuật, tuyệt đối tuân theo quy trình sản xuất rau an toàn”, bà Liên nói.

Theo Báo Thanh Niên

Thành lập tổ hợp tác làng nghề truyền thống – Hướng đi mới

Làng nghề chổi truyền thống Hà Ân nằm ở xã Thạch Mỹ, huyện Lộc Hà (Hà Tĩnh) nổi tiếng với nghề làm chổi.Việc thành lập tổ hợp tác (THT) làng nghề truyền thống ở Hà Ân là hết sức cần thiết trong việc xây dựng thương hiệu, đẩy mạnh sản phẩm ra thị trường.

Với điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp, nên nghề làm chổi đang là một trong những hướng đi mới cho sự phát triển kinh tế của địa phương nơi đây. Tuy nhiên, việc thiếu đi một điểm tựa từ một mô hình kinh tế cụ thể đã và đang là trở ngại không nhỏ cho sự phát triển của chính làng nghề.

Khi làng nghề cứu kinh tế địa phương

Theo thống kê của UBND xã Thạch Mỹ, có hơn 90% số hộ dân ở thôn Hà Ân làm nghề chổi truyền thống, hàng năm cung cấp hàng chục ngàn sản phẩm chổi các loại cho tỉnh Hà Tĩnh và khu vực Bắc Trung bộ với doanh thu lên tới hàng tỷ đồng. Sự phát triển của làng nghề đóng góp một phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế – xã hội của xã Thạch Mỹ.

Ông Nguyễn Anh Vũ – một người cao tuổi ở thôn Hà Ân, cho biết do điều kiện thời tiết ở đây rất khắc nghiệt, hoạt động sản xuất nông nghiệp không có điều kiện thuận lợi để phát triển, nên nghề làm chổi là nghề chính của người dân địa phương. Và nơi đây được mệnh danh là “cái nôi” sản xuất chổi của tỉnh Hà Tĩnh.

“Nghề làm chổi tuy thu nhập không được cao so với những nghề khác, song nhiều gia đình ở đây nhờ có nghề của cha ông để lại, cộng với đức tính chịu khó, khiếu thẩm mỹ cao, với phương châm “lấy công làm lãi”, nên nghề làm chổi đã trở thành kế mưu sinh chính cho người dân nơi đây. Nhiều gia đình đã thoát nghèo và có cuộc sống ổn định”, ông Vũ chia sẻ.

Ông Nguyễn Văn Đức – Trưởng thôn Hà Ân, cho biết: “Trong những năm gần đây, làng nghề đã có nhiều thành tựu trong phát triển về kinh tế. Tuy nhiên, cũng còn không ít khó khăn, nhất là trong việc cung cấp nguồn nguyên liệu. Nguyên nhân là do những năm trước, nguyên liệu chính làm chổi là cây đót hết sức dồi dào, song thời gian gần đây, do nạn phá rừng bừa bãi, nên nguồn nguyên liệu khan hiếm. Các hộ dân ở đây phải thành lập các THT khoảng 25 – 30 người, sang các vùng núi phía Tây của tỉnh Nghệ An, Quảng Bình để tìm nguồn hàng.

Theo ông Đức, trung bình một ngày, người thợ làm nghề ở Hà Ân có thể làm được 15kg đót khô, để làm ra được khoảng 20 sản phẩm chổi các loại. Người khéo tay thì có thể làm ra 25 sản phẩm. Sau khi trừ các chi phí, thu nhập của người làm nghề dao động từ 100.000 -150.000 đồng/ngày. Mức thu nhập tuy chưa thật sự cao so với các nghề khác, nhưng cũng đã trở thành kế sinh nhai chính, đủ đáp ứng được cuộc sống ổn định cho người dân nơi đây.

Lang-nghe-choi-TTHaAn

Làng nghề chổi truyền thống Hà Ân cần có mô hình THT để vươn xa

Lập THT để phát triển tiềm năng

Trao đổi với Thời báo Kinh Doanh, ông Võ Tá Hiếu – Chủ tịch UBND xã Thạch Mỹ, cho biết: Thực hiện Nghị quyết 26 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển nông nghiệp nông thôn và Nghị quyết 06 của Đảng bộ huyện Lộc Hà về đẩy mạnh phát triển mô hình HTX, THT, chính quyền xã đang nghiên cứu, theo dõi để tiến tới thành lập đề án THT làng nghề ở thôn Hà Ân. Điều này sẽ là lời giải cho bài toán giữ gìn, bảo tồn làng nghề truyền thống, vừa giải quyết được việc làm, tạo thu nhập ổn định cho người lao động. “Quan trọng nhất, đó là tiền đề, là điều kiện tư cách pháp nhân cho làng nghề đẩy mạnh, mở rộng hoạt động sản xuất; tạo điều kiện thuận lợi cho sự liên kết hợp tác của làng nghề với các đối tác, doanh nghiệp trong việc quảng bá, giới thiệu bao tiêu sản phẩm, để thương hiệu chổi Hà Ân đến được với đông đảo người tiêu dùng trong thời gian tới”, ông Hiếu nhấn mạnh.

Thiết nghĩ việc thành lập THT làng nghề truyền thống ở Hà Ân là hết sức cần thiết trong việc đẩy mạnh thương hiệu sản phẩm ra thị trường. Bởi, nghề chổi truyền thống ở Hà Ân có nhiều tiềm năng, thuận lợi để phát triển, như mẫu mã đa dạng, giá cả phải chăng, chất lượng sản phẩm đã được khẳng định. Và quan trọng hơn cả, chổi là vật dụng không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của mỗi gia đình, nên dễ bề tiêu thụ. Việc thành lập mô hình THT Hà Ân là cơ sở, bước đệm quan trọng cho việc thành lập HTX kiểu mới tại địa phương trong thời gian tới.

Theo thời báo kinh doanh

Xây dựng HTX gắn với chuỗi giá trị sản xuất hàng hóa quy mô lớn

Để khu vực kinh tế tập thể vận hành theo đúng quỹ đạo, phát triển bền vững và ngày càng nhiều hợp tác xã đạt chuẩn cũng như tạo được chuỗi liên kết, ông Võ Kim Cự, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam cho rằng, đã đến lúc phải xây dựng hợp tác xã gắn với chuỗi giá trị sản xuất hàng hóa quy mô lớn.

Theo ông Cự, trước hết cần làm thí điểm tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long với 3 sản phẩm chủ lực là gạo, trái cây và thủy sản, nhằm giúp hộ nông dân khắc phục cơ bản thua thiệt trên thị trường, gia tăng lợi nhuận trong sản xuất nông nghiệp cho nông dân thông qua liên kết hữu cơ trong chuỗi sản xuất.

HTX-chuoi-gthh-quy-mo-lon

Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp nông thôn Tịnh Trà, xã Tịnh Hiệp, huyện Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) đã triển khai trồng thí điểm giống bí đỏ. Ảnh: Sỹ Thắng/TTXVN

Sản xuất nông nghiệp có 3 công đoạn, gồm sản phẩm, dịch vụ đầu vào (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi, dịch vụ khoa học – kỹ thuật…); sản xuất trực tiếp ra nông sản; và dịch vụ đầu ra (thu hoạch, thu mua, bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm…). Công đoạn đầu tiên và công đoạn cuối cùng của chuỗi giá trị nông sản này hiện nay chủ yếu do doanh nghiệp kiểm soát. Theo ông Cự, vì mục tiêu lợi nhuận và quy luật thị trường, doanh nghiệp thường ép giá bán cao đối với sản phẩm, dịch vụ đầu vào và ép giá thu mua thấp đối với sản phẩm, dịch vụ đầu ra. Toàn bộ lợi nhuận phát sinh ở công đoạn đầu và cuối rơi vào tay doanh nghiệp. Người nông dân bỏ công sức, bỏ chi phí nhiều nhất, nhưng lại thu được lợi nhuận rất ít vì bị doanh nghiệp “móc túi”. Ngoài ra, do sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, kinh nghiệm, thiếu vốn, nên nông dân thường không sơ chế, bảo quản nông sản để làm tăng giá trị, mà phải bán nông sản thô, cạnh tranh với nhau để bán sản phẩm thô, nên càng tạo điều kiện cho tư thương ép giá.

Nhưng khi gắn kết với nhau trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã quy mô tỉnh và liên hiệp hợp tác xã quy mô vùng, người nông dân sẽ làm chủ cả 3 công đoạn trong chuỗi giá trị, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, đầu tư để bảo quản, sơ chế gia tăng giá trị, nên công sức của họ không bị rơi vào tay đối tượng khác. Ngoài ra, thông qua hợp tác xã, liên minh hợp tác xã, sự hỗ trợ của Nhà nước cho sản xuất nông nghiệp sẽ hiệu quả hơn rất nhiều.

Theo ông Võ Kim Cự, hợp tác xã kiểu mới thành lập khi và chỉ khi có những liên kết rõ ràng, đem lại lợi ích thiết thực cho từng thành viên. Tuy nhiên, đó mới chỉ là những điều kiện “cần”. Còn điều kiện “đủ” đòi hỏi phải có những sáng lập viên am hiểu Luật Hợp tác xã, am hiểu bản chất hợp tác xã, nhiệt tình vận động những ai có cùng nhu cầu gia nhập hợp tác xã kiểu mới. Điều này đòi hỏi năng lực của những người đứng đầu khu vực kinh tế tập thể.

Bên cạnh những hợp tác xã đã thành công khi áp dụng mô hình kiểu mới vào hoạt động cũng như tạo chuỗi liên kết với doanh nghiệp để tạo đầu ra cho sản phẩm. Tuy nhiên, vẫn còn đó những tỉnh, thành phố hoạt động cầm chừng và đáng buồn là không ít các chủ nhiệm hợp tác xã vẫn còn lơ mơ, chưa hiểu rõ về bản chất của hợp tác xã kiểu mới, luật mới. Chính vì vậy, họ quan niệm rằng dù hoạt động theo luật cũ hay mới cũng không có gì thay đổi ngoài tên gọi.

Tại Hải Phòng, hầu hết các hợp tác xã nông nghiệp chủ yếu tập trung làm dịch vụ đầu vào cho nông nghiệp, tức là phối hợp với các công ty phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cung cấp hàng hóa trả chậm cho nông dân, chứ chưa khẳng định được vai trò định hướng sản xuất, kết nối tiêu thụ sản phẩm do người nông dân làm ra đến với thị trường. Các phương án sản xuất kinh doanh, tìm kiếm giống cây, vật nuôi chủ lực vẫn do người nông dân tự làm.

Ông Võ Kim Cự cho rằng, kinh tế hợp tác, hợp tác xã vẫn thuộc thành phần yếu thế, cả về vốn, trình độ quản lý, kinh nghiệm lẫn cạnh tranh trên thị trường, vì vậy rất cần có sự hỗ trợ của Nhà nước từ bồi dưỡng nguồn nhân lực; xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường; ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới… đến đất đai, vốn đầu tư, vốn tín dụng, bảo lãnh tín dụng.

Theo Báo Tin tức

Công nghệ nhà kính giúp nhà nông nhàn hơn

Tại nông trường VinEco, toàn bộ công đoạn trồng cây như rập lỗ, tra hạt, phủ hạt, tưới ẩm… đều được thực hiện bằng máy để đảm bảo độ sạch 100%.

Dù là công nhân nông trường nhưng chị Nguyễn Thị Thủy (34 tuổi, Đội Hiệp Thuận, xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc) cho biết, công việc hàng ngày của chị chỉ đơn giản là đo cây, ấn nút.

Theo đó, toàn bộ công đoạn trồng cây như rập lỗ, tra hạt, phủ hạt, tưới ẩm… đều được thực hiện bằng máy để đảm bảo độ sạch 100%. Với rau mầm, sau khi tra hạt giống, các khay giá thể sẽ được chuyển vào phòng nảy mầm nhà ủ riêng biệt với sự kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm phù hợp. Còn rau thủy canh, sau khi đạt kích thước khoảng 7-10 cm, từng cây sẽ được đặt vào trồng trong đường ống.

Chị Thủy tâm sự, từ ngày chuyển vào làm việc trong nhà kính, chị chỉ việc đo cây, ấn nút theo đúng quy trình, máy móc hiện đại do chính các chuyên gia nước ngoài chỉ dẫn.

trong-rau-nha-kinh

Rau sạch trồng trong nhà kính

Theo thạc sĩ Lại Đức Lưu (Đội trưởng Đội sản xuất Nhà kính VinEco Vĩnh Phúc), hệ thống nhà kính tại đây có diện tích 4,5ha, sử dụng công nghệ nổi tiếng của Teshuva Agricultural Projects (TAP, Israel) hoàn toàn tự động và đảm bảo các điều kiện phát triển tối ưu nhất về nước, dinh dưỡng và hàm lượng oxy cho cây trồng. Nhờ thế, sản phẩm vừa có năng suất cao gấp 3-6 lần so với bình thường, vừa an toàn, đảm bảo chất lượng dinh dưỡng cao với hình thức thương phẩm đồng đều trên tất cả cây trồng.

Ông Pepe Heiblum (chuyên gia nông nghiệp Israel) cho biết, nhà kính có hệ thống lưới, màng ngăn mưa, chặn côn trùng giúp chủ động kiểm soát sâu bệnh, hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc trừ sâu cũng như dư lượng Nitrat mà nếu trồng theo phương pháp thông thường sẽ khó kiểm soát.Ngoài ra, nếu nhà kính có cào cào hay ong, bướm lọt vào, các chuyên viên kỹ thuật sẽ bị phạt. Vì thế, chiếc quạt “khổng lồ” được treo ngay phía trên cửa ra vào sẽ có nhiệm vụ thổi ngược để côn trùng bên ngoài không được phép xuất hiện trong nhà kính.

Theo thạc sĩ Lại Đức Lưu, hệ thống tưới tự động bằng nguồn nước sạch, phun sương để giữ ẩm, điều khiển khí hậu chính là “não bộ” của nhà kính. “Máy sẽ kiểm soát và thông báo những khu vực nào rau đang khô cần phun nước, khu vực nào cần mở kính để lấy ánh sáng, khi nào nhà kính thiếu độ ẩm. Máy cũng cho biết thông tin rau đang ở giai đoạn còn non hay đã trưởng thành và cả lịch thu hoạch”, ông chia sẻ.

cay-con-tieu-chuan-trong-nha-kinh

Nông dân kiểm tra, chọn lọc cây con trước khi đưa vào đường ống

Tại khu vực đóng gói, nhân viên Nguyễn Văn Xuân cho biết: “Thường ở ngoài ruộng rau sẽ có lá già, lá bệnh nhưng rau nhà kính sinh trưởng đồng đều, rất sạch sẽ nên công việc của nhân viên sơ chế chỉ cần bao gói đúng quy cách, dán tem và chuyển kho lạnh bảo quản trước khi lên xe chở về siêu thị”.

Ông Avner Shohet, Giám đốc Phát triển kinh doanh (Tập đoàn Teshuva Agricultural Projects -TAP, Israel) chia sẻ, công nghệ nhà kính được áp dụng tại VinEco là công nghệ hàng đầu thế giới. TAP là công ty nổi tiếng trên thế giới cung cấp bí quyết công nghệ sản xuất rau mầm Microgreen, rau trên hệ thống thủy canh màng mỏng dinh dưỡng (NFT) cải tiến và công nghệ trồng thủy canh tưới nhỏ giọt. Công nghệ này đã được áp dụng tại Mỹ, New Zealand, Australia, Mexico, Israel, Thái Lan…

Cũng nhờ những tối ưu từ công nghệ, thời gian tới, VinEco có thể đưa vào sản xuất những bộ giống đặc biệt, cung ứng cho thị trường nhiều loại rau củ quả an toàn, chất lượng. Đây là những sản phẩm chưa từng xuất hiện hoặc mới được sản xuất rất hạn chế tại Việt Nam. Những mẻ rau trồng trong nhà kính đầu tiên của công ty cũng vừa được ra mắt thị trường.

Theo kế hoạch, từ nay đến cuối năm, VinEco sẽ lần lượt hoàn thiện lắp đặt 55ha nhà kính theo công nghệ Israel (TAP và NETAFIM) và hơn 200ha nhà lướinhà màng để canh tác rau mầm, rau thủy canh và các loại rau quả khác tại miền Bắc, miền Nam và Lâm Đồng.

Nông nghiệp Việt đi chậm hơn Trung Quốc, Hàn Quốc thập niên 90

Tốc độ tăng năng suất lao động nông nghiệp giai đoạn 2000-2013 đạt 3,4%, chưa bằng một nửa so với Trung Quốc, Hàn Quốc những năm 1980-1995.

Hiện trạng không mấy sáng sủa của nông nghiệp Việt Nam là vấn đề được chỉ ra tại diễn đàn về phát triển doanh nghiệp nông nghiệp do Ban Kinh tế Trung ương được tổ chức sáng 8/9.

Đánh giá cho thấy Việt Nam là quốc gia có nhiều lợi thế, song theo Trưởng ban Kinh tế trung ương Nguyễn Văn Bình, trong vài thập kỷ qua, nông nghiệp vẫn phát triển chủ yếu dựa trên cơ sở thâm dụng đầu vào sản xuất, nguồn lực con người và tài nguyên thiên nhiên.

nong-nghiep-Viet-Nam

“Từ năm 1990, tốc độ tăng năng suất đã chậm lại và chậm hơn so với hầu hết các nước cùng trình độ phát triển trong khu vực, do lợi nhuận từ thâm canh đất đã đạt đến mức tới hạn”, vị này nhận xét. Ông cũng lấy ví dụ tốc độ tăng năng suất lao động trung bình ngành giai đoạn 2000-2013 của Việt Nam chỉ đạt 3,4% một năm, trong khi Trung Quốc, Hàn Quốc đã đạt khoảng 7,5% từ những năm 1980-1995.

Lãnh đạo Ban Kinh tế trung ương cũng cho biết năm 2014, năng suất lao động nông nghiệp chỉ bằng 39% mức chung của nền kinh tế, khiến ngành này phát triển thiếu bền vững, đối mặt với những vấn đề nan giải: giá trị gia tăng thấp, an toàn thực phẩm không đảm bảo và khả năng sinh lời thấp của sản xuất nông hộ quy mô nhỏ.

Theo Tiến sĩ Võ Trí Thành, đà tăng trưởng chậm nêu trên đã khiến cho nhiều doanh nghiệp Việt không muốn làm nông nghiệp. “Tại sao họ không muốn làm? Bởi vì giá trị gia tăng cao nhất cũng chỉ được 3%, trong khi các lĩnh vực khác đều cao hơn, ví dụ như bất động sản thì có thể gấp mấy lần. Tuy nhiên, tôi cho rằng đó là nhìn nhận hoàn toàn lệch lạc”, ông Thành nhận định.

Theo chuyên gia này, mỗi năm thế giới tiêu dùng khoảng 15.000 tỷ USD cho hàng hóa trong lĩnh vực nông nghiệp, chăn nuôi… Con số đó cho thấy dư địa khai thác còn rất lớn. Trong khi đó, hiện Việt Nam cung cấp cho thế giới 100 tỷ USD hàng hóa trong lĩnh vực này. Con số này theo ông Thành là nhỏ so với tiềm năng nên ngành nông nghiệp Việt không có lợi thế về quy mô, tỷ trọng trong GDP thấp, cách làm manh mún….

Tuy nhiên, để lớn khắc phục tình trạng này, theo ông câu chuyện liên kết chuỗi trong nông nghiệp Việt Nam lại gặp phải 2 vấn đề. Một là, các doanh nghiệp trong chuỗi thậm chí không hợp tác mà chơi xấu lại nhau. Hai là, sự đàng hoàng trong hợp đồng, thỏa thuận kinh tế giữa doanh nghiệp và nông dân hay bị xóa bỏ.

Theo đại diện Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI), dù là một lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế nhưng tỷ trọng doanh nghiệp trong lĩnh vực nông lâm thủy sản rất nhỏ. Số lượng tuy đã tăng từ dưới 2.400 những năm 2007 lên hơn 3.600 năm 2013 nhưng tỷ trọng lại có xu hướng giảm đi.

Số liệu nghiên cứu cũng cho thấy doanh thu bình quân mỗi lao động trong lĩnh vực nông lâm thủy sản mang lại đã tăng 2,2 lần (119 triệu đồng lên 262 triệu) giai đoạn 2007-2013, song nếu so sánh với toàn bộ khu vực doanh nghiệp thì con số này chỉ tương đương khoảng 25%.

Thủ tướng muốn thanh long Việt sớm có mặt trên kệ siêu thị Australia

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị Australia mở cửa hơn nữa thị trường đối với hàng nông sản của Việt Nam, bên cạnh mặt hàng vải thiều, xoài.

Mong muốn này được người đứng đầu Chính phủ đưa ra tại cuộc hội kiến với Thủ tướng Australia Malcolm Turnbull tại thủ đô Vientiane (Lào), ngày 8/9.

Khẳng định Việt Nam tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có các nhà đầu tư Australia mở rộng đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam, Thủ tướng cũng đề nghị Australia mở cửa hơn nữa thị trường đối với hàng nông sản của Việt Nam. Cụ thể, nhanh chóng hoàn tất các thủ tục đánh giá rủi ro cho thanh long Việt để sản phẩm này sớm có mặt trên thị trường Australia.

lua 2 thanh  long

Theo thương vụ Việt Nam tại Australia, cuối tháng 6 vừa qua, một đoàn cán bộ của Bộ Nông nghiệp và Nguồn nước của Australia đã đến thăm TP HCM và các tỉnh Long An, Tiền Giang… để thị sát quy trình trồng, sản xuất thanh long ở Việt Nam.

Dự kiến vào cuối năm nay, Chính phủ Australia sẽ công bố một dự thảo báo cáo về quá trình đánh giá sản phẩm thanh long Việt Nam để tham vấn rộng rãi trước công chúng.

Australia là thị trường tiềm năng cho các sản phẩm trái cây của Việt Nam. Cuối tháng 6 vừa qua, đã có hơn 10 tấn vải thiều Lục Ngạn được xuất khẩu sang thị trường Australia được người tiêu dùng đón nhận. Và gần đây là quyết định nhập khẩu xoài từ Việt Nam.

Cũng tại buổi hội kiến, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao sự hỗ trợ của Chính phủ Australia dành cho Việt Nam về phát triển cơ sở hạ tầng, giáo dục đào tạo… Ông đồng thời đề nghị Australia tiếp tục hỗ trợ Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, triển khai hiệu quả các chương trình trao đổi, hợp tác giáo dục đào tạo.

Quảng Trị được mùa lúa hè thu nhất từ trước đến nay

Ngày 19-10, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Trị cho biết, vụ lúa hè thu năm 2016 tuy gặp nhiều khó khăn về điều kiện thời tiết nhưng năng suất, sản lượng lúa tăng mạnh so cùng kỳ năm trước. Đây cũng là năm được đánh giá được mùa nhất từ trước đến nay ở Quảng Trị.
lua 2
Theo đó, vụ hè thu năm nay, năng suất bình quân đạt 51,7 tạ/ha, tăng 2,5 tạ/ha so cùng kỳ năm trước, sản lượng lúa hơn 114.455 tấn, tăng hơn 15.000 tấn so năm trước.
Theo thống kê, toàn tỉnh gieo cấy lúa nước vụ hè thu năm 2016 hơn 22.157 ha, đạt 107% so kế hoạch, tăng hơn 2.000 ha so năm trước. Ngoài ra, hơn 1.900 ha lúa lúa nương rẫy ở hai huyện miền núi Hướng Hóa và Đakrông được bà con gieo trồng tập trung sản lượng ước đạt hơn 1.800 tấn.
Để hỗ trợ cho bà con nông dân, hạn chế ảnh hưởng của mưa lũ cuối vụ, ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tăng cường chỉ đạo các địa phương đưa các giống lúa ngắn và cực ngắn ngày như: Khang dân, Thiên ưu, Ma lâm, HC 95, HT 1… vào sản xuất vụ hè thu.
Ngoài ra, các chính sách hỗ trợ của Nhà nước về giá giống, kinh phí làm đất chuyển đổi; các địa phương có chính sách hỗ trợ sản xuất cánh đồng mẫu lớn cho người nông dân đã góp phần quan trọng đưa lại một vụ mùa thắng lợi.

Quảng Ngãi xây dựng vùng chuyên canh cây quế

Ngày 30.10, Sở NN-PTNT Quảng Ngãi cho biết đã trình UBND tỉnh phê duyệt dự án đầu tư phát triển vùng chuyên canh cây quế tại huyện miền núi Trà Bồng, giai đoạn 2016 – 2020, với tổng mức đầu tư hơn 190 tỉ đồng.
que tra bong
Dự án do UBND H.Trà Bồng làm chủ đầu tư, triển khai trên địa bàn 7 xã: Trà Lâm, Trà Hiệp, Trà Thủy, Trà Giang, Trà Sơn, Trà Tân và Trà Bùi. Mục tiêu đến năm 2020 phát triển và ổn định diện tích quế trong toàn huyện lên 2.800 ha, trong đó vùng chuyên canh cây quế tập trung 1.718 ha, hằng năm cung cấp ra thị trường 3.150 tấn vỏ quế và 4.200 tấn cành, lá, nhánh phục vụ nhu cầu chế biến sản phẩm thủ công mỹ nghệ, chưng cất tinh dầu.
Trước đó, quế Trà Bồng còn được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học – Công nghệ) công nhận thương hiệu và Tổ chức Kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục Việt Nam, thuộc top 10 đặc sản kẹo mứt, thiên nhiên nổi tiếng Việt Nam.

Xuất khẩu gạo năm 2016 khó đạt 5,4 triệu tấn

Thị trường xuất khẩu khó khăn cho nên mục tiêu xuất khẩu đã điều chỉnh giảm xuống 5,4 triệu tấn năm 2016cũng sẽ khó có khả năng hoàn thành, theo ông Lê Minh Trượng, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Lương thực miền Nam (Vinafood 2).
lua
Xuất khẩu gạo cả năm 2016 khó đạt mục tiêu 5,4 triệu tấn. Trong ảnh là nông dân đang thu hoạch lúa. Ảnh: Trung Chánh
Tại hội nghị “Sơ kết sản xuất vụ thu đông, vụ mùa 2016 và triển khai kế hoạch sản xuất vụ đông xuân 2016-2017vùng Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)” được tổ chức ở Hậu Giang hôm nay 5-10, ông Trượng cho biết theo kế hoạch của Chính phủ, xuất khẩu gạo chính ngạch năm 2016 đặt mục tiêu đạt 6,5 triệu tấn và đây cũng là mục tiêu được Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) thống nhất thông qua hồi đầu năm 2016.
Tuy nhiên, theo ông Trượng, sau khi VFA đánh giá lại diễn biến của thị trường, thì mục tiêu kế hoạch xuất khẩu cho năm 2016 đã được điều chỉnh giảm xuống gần 20%, chỉ còn 5,4 triệu tấn. “Nhưng, theo đánh giá gần đây nhất tại cuộc họp Ban chấp hành VFA, thì dự kiến cả năm 2016 sẽ không đạt được kế hoạch 5,4 triệu tấn”, ông Trượng cho biết.
Theo ông Trượng, có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc điều chỉnh kế hoạch xuất khẩu ở năm 2016, nhưng cơ bản nhất vẫn là do gạo Việt Nam không có thương hiệu, chất lượng thấp, giá thành cao nên chưa thể cạnh tranh được ở một số thị trường.
Thực tế, theo ông, thời gian qua gạo Việt Nam liên tục bị thị trường Mỹ trả về do phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt mức cho phép nên đã làm khối lượng gạo xuất khẩu sụt giảm so với các năm trước.
Trước đó, tại  hội thảo “Góp ý dự thảo thể lệ, quy chế cuộc thi sáng tác logo thương hiệu quốc gia gạo Việt Nam” được tổ chức tại Thành phố Cần Thơ hôm 30-9, ông Vũ Quang Cảnh, Phó phòng nông sản thực phẩm thuộc Vinafood 2 dẫn thống kê của Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA), cho biết tính từ năm 2012 đến tháng 8-2016, đã có tổng cộng 16 doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam bán sang thị trường Mỹ bị trả về với tổng số 412 container gạo, trong đó có một vài công ty thành viên của Vinafood 2.
Ông Phạm Thái Bình, Giám đốc Công ty TNHH Trung An (Cần Thơ), cho biết nếu tính chung cả ở thị trường Mỹ và Bắc Âu, thì số lượng gạo Việt Nam bị trả về do “vướng” dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt mức cho phép là khoảng 500 container, tương đương với khối lượng khoảng 10.000 tấn.
Không chỉ ở thị trường cao cấp, theo ông Trượng, ở một số thị trường không đòi hỏi cao về chất lượng sản phẩm, thì khả năng cạnh tranh của gạo Việt Nam cũng đang bị “lép vế” trước một số quốc gia xuất khẩu gạo khác như Thái Lan, Pakistan. “Nhìn chung, thị trường gạo đang có sự cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu; gạo5% tấm của chúng ta có giá tương đương 335 đô la Mỹ/tấn, nhưng gạo Pakistan chỉ khoảng 320 đô la Mỹ/tấn, do vậy, Trung Quốc đã chuyển mua từ gạo Việt Nam sang gạo Pakistan”, ông Trượng dẫn chứng.
Theo ông Trượng, những nguyên nhân như đã nêu ở trên đã làm tiêu thụ gạo Việt Nam giảm dần ở các thị trường xuất khẩu.
Thực tế, báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy trong chín tháng đầu năm 2016, xuất khẩu gạo Việt Nam ước đạt 3,76 triệu tấn với kim ngạch đạt 1,69 tỉ đô la Mỹ, giảm 16,4% về khối lượng và giảm12,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015.
Tuy nhiên, có một điều đáng lưu ý ở đây, theo ông Cảnh, đó là xuất khẩu gạo dự kiến sẽ còn tiếp tục khó khăn cho đến những tháng đầu năm 2017, chứ không chỉ riêng trong năm nay.

Post navigation